Có những bệnh thường gặp ở trẻ em làm các ông bố bà mẹ rất lo lắng mỗi khi con mắc phải nhưng thực ra lại là những điều hết sức bình thường ở trẻ nhỏ. Hãy cùng bác sĩ hướng dẫn bạn cách điều trị và chăm sóc bé khi gặp những bệnh thường gặp dưới đây nhé:
Cứt trâu da đầu – Craddle Cap
“Cứt trâu” là từ dân gian thường dùng, để chỉ tình trạng các bé nhỏ sau sinh có da đầu nhìn không được “xinh” cho lắm. Da đầu có những mảng dính nhờn, nhìn dơ dơ, dính chặt trên đầu và tóc trẻ, làm thành một mớ hơi bị bùi nhùi. Thực tế, đây là tình trạng viêm da, gây ra do viêm các tuyến nhờn trong da đầu của trẻ, và chỉ xảy ra ở trẻ nhỏ dưới 3 tháng tuổi. Trẻ khi sinh ra thường có các tuyến nhờn hoạt động nhiều do ảnh hưởng của các chất hóc môn của mẹ khi trẻ được nuôi dưỡng trong bụng mẹ. Đến khi trẻ được 3 tháng, các tuyến nhờn này sẽ tự ngưng hoạt động, và chỉ “bật lại” trong giai đoạn dậy thì.
Tình trạng này lành tính và thường tự hết sau vài tháng, không gây đau cho trẻ, và không lây nhiễm. Tuy nhiên, vì tính thẩm mỹ, mà nhiều ba mẹ muốn lấy “cứt trâu” ra khỏi đầu con. Nên nhớ, nếu con trẻ có những mảng tương tự ở mặt hoặc các phần cơ thể khác, thì không phải là tình trạng viêm da lành tính kể trên, và nên cho trẻ đi khám bác sĩ để đánh giá thêm.
Nếu muốn lấy “cứt trâu” ra khỏi da đầu trẻ, ba mẹ và ông bà nên làm theo cách sau, để có thể lấy ra, và giúp tình trạng cải thiện nhanh hơn. Lấy dầu (vd dầu massage cho em bé, dầu dừa, dầu olive), massage nhẹ nhàng lên da đầu trẻ vào buổi tối. Sáng hôm sau, gội đầu cho bé bằng dầu gội đầu cho trẻ nhỏ, nhẹ nhàng gảy các mảng bám bằng tay hoặc bằng một bàn chải mềm (có thể dùng bàn chải đánh răng mềm). Tiếp tục làm từng chút mỗi ngày cho đến khi da đầu trẻ nhìn sạch hơn.
Khi lấy “cứt trâu” đi, “cứt trâu” có thể trở lại, vì các tuyến nhờn vẫn còn hoạt động cho đến vài tháng sau sinh.
Một số trường hợp, da dưới vùng “cứt trâu” có thể bị nhiễm trùng, lúc này, da trở nên đỏ hơn, và có thể có bong nước hoặc dịch nhầy. Nếu có dấu hiệu này, nên cho bé đi khám bác sĩ ngay để bác sĩ đánh giá và xem xét có cần dùng kháng sinh hay không.
Những điểm chính cần nhớ:
• Cứt trâu da đầu là một tình trạng viêm da tuyến bã lành tính ở trẻ nhũ nhi dưới 3 tháng tuổi. Tự hết sau vài tháng. Chúng ta có thể tự lấy cứt trâu đi, và giúp tình trạng cải thiện nhanh hơn.
• Nếu trẻ có biểu hiện tương tự ở bất cứ phần da nào khác với da đầu, trẻ nên được cho đi khám bác sĩ.
• Nếu có dấu hiệu nhiễm trùng, nên cho trẻ đi khám bác sĩ ngay.
Viêm tiểu phế quản
Viêm tiểu phế quản là một nhiễm virus đường hô hấp, thường xảy ra ở trẻ dưới 6 tháng tuổi, tuy nhiên đôi khi cũng xảy ra ở trẻ nhỏ đến 1 tuổi. Như tên gọi, bệnh này gây viêm nhiễm, tắc nghẽn đường khí nhỏ dẫn vào phổi của bé (tiểu phế quản), và gây ra những triệu chứng về hô hấp và toàn thân cho trẻ.
Những dấu hiệu và triệu chứng của bệnh:
• Bệnh thường bắt đầu như một cơn cảm trong 1-2 ngày đầu, và trẻ sẽ có các triệu chứng như sổ mũi, ho nhẹ, nghẹt mũi.
• Sau đó, trẻ bắt đầu ho nhiều hơn, thở nhanh hơn và nghe khò khè. Vì vậy, trẻ sẽ khó ăn uống hơn. Những triệu chứng thường gặp lúc này là: thở nhanh, bú/ăn kém, thở khò khè, co lõm ngực/bụng khi thở, sốt.
• Trẻ bị viêm tiểu phế quản thường tệ nhất trong ngày thứ 2 và thứ 3, và sau đó cải thiện dần dần, nhưng đợt bệnh có thể kéo dài 7 đến 10 ngày. Sau khi hết đợt bệnh, trẻ có thể ho dai dẳng 2-4 tuần mới dứt hẳn.
Điều trị:
• KHÔNG HÚT THUỐC TRONG NHÀ HOẶC XUNG QUANH TRẺ. Điều này đặc biệt quan trọng với trẻ bị bệnh đường hô hấp. Hút thuốc trong nhà làm tăng nguy cơ trẻ bị viêm tiểu phế quản và làm bệnh trẻ nặng hơn.
• Các loại thuốc thường không giúp được cho trẻ bị viêm tiểu phế quản. Vì đây là một nhiễm virus nên trẻ không cần sử dụng kháng sinh.
• Trẻ cần nghỉ ngơi, và cho ăn uống lượng nhỏ hơn, thường xuyên hơn. Thực hành này sẽ giúp trẻ không bị đuối sức khi ăn, đồng thời tránh làm trẻ bị mất nước và trở nặng do mất nước trong đợt bệnh này.
Nên cho trẻ đi khám bác sị khi:
• Trẻ bị ho nhiều hơn
• Trẻ ăn uống được chỉ khoảng ½ so với bình thường, hoặc trẻ không chịu ăn uống
• Trẻ có vẻ mệt mỏi, đừ hoặc buồn ngủ hơn mọi khi
• Nếu bạn có bất kỳ lo lắng gì
Nên cho trẻ đến phòng CẤP CỨU của bệnh viện gần nhất nếu:
• Trẻ khó thở (thở rất nhanh hoặc thở không đều)
• Không thể ăn uống bình thường do ho hoặc khò khè
• Nếu trẻ bị thay đổi màu da mặt khi trẻ ho
• Trẻ bị tím, hoặc da nhợt nhạt, vã mồ hôi
Những điểm cần lưu ý:
• Trẻ cần nghỉ ngơi, uống lượng nhỏ thường xuyên hơn
• Bệnh viêm tiểu phế quản dễ lây trong vài ngày đầu của bệnh.
• Bệnh phổ biến ở trẻ dưới 1 tuổi.
• Trẻ thường bệnh 3-5 ngày, sau đó phục hồi trong 7-10 ngày sau. Ho có thể kéo dài 2-4 tuần.
• HÚT THUỐC LÁ làm tăng nguy cơ trẻ nhỏ bị viêm tiểu phế quản, và làm cho bệnh của trẻ nặng hơn.
Trào ngược ở trẻ nhũ nhi – hay Cái sự nôn trớ chơi chơi của mấy ông bà!
“Con em sao nó cứ trớ hoài vậy bác sĩ? Nó có bị làm sao không vậy bác sĩ ơi?”
Phải nói là khi ba mẹ ông bà đến gặp bác sĩ mà phàn nàn kiểu vậy, là lúc đó ba mẹ ông bà rất ư là ấm ức. Công sức bồng muốn rụng tay, ngồi muốn rụng lưng, cung phụng cho bú mỗi lần cả tiếng đồng hồ chứ đâu có ít. Bú xong chưa kịp mừng thì mấy ông bà nhỏ đã “tự ý” phèo ra . Nhìn giận ứa gan mà cái mặt mấy “ổng bả” vẫn rất ư là phơn phởn! Rồi lại phải cho bú lại, rồi lại phèo ra! Một sự “vô ơn” ngây thơ vô số tội! Cái vòng luẩn quẩn cứ xoay vòng, càng mệt mỏi, lại càng lo lắng. Trớ vậy có sao không? Có bệnh gì thêm hay không? Có tăng ký được không? Mai mốt còn vậy không trời? Phải làm sao cho nó hết? Có cần đổi sữa không? Mua sữa gì đây? ……. Luận suy ra biết bao nhiêu câu hỏi cho vừa! Thôi thì chúng ta cùng nhau tìm hiểu để bớt suy nghĩ lung tung, bớt làm lung tung, bớt phí tiền lung tung, nhé!
Vậy cái sự trớ nó là cái gì vậy nhỉ? Trong y khoa, người ta gọi đó là tình trạng “trào ngược ở trẻ nhũ nhi” đối với những trẻ từ 1 tuổi trở xuống. Đây là một tình trạng sinh lý bình thường của trẻ, khi sữa hoặc thức ăn khi đi vào dạ dày, tự “trào ngược” lên ống thực quản, và đi ra khỏi miệng. Tình trạng này xảy ra mà trẻ không cần cố sức gì cả.
Lý do là vì dạ dày của trẻ nhũ nhi khá nhỏ (xin coi lại bài trước về kích thước dạ dày), lại nằm hơi ngang, thay vì nằm thẳng đứng như ở người lớn. Trên giải phẫu, ngay tại điểm nối giữa ống thực quản và dạ dày, có một “dây” thắt nút bên ngoài, làm từ cơ trơn, có tác dụng như một cái cài cửa. Khi dạ dày hơi đầy, dây này thắt lại, “đóng nút” dạ dày, để thức ăn không đi ngược lên trên. Ở trẻ nhũ nhi, dây này còn yếu và lỏng lẻo, nên cái cài cửa này rất dễ bị bung ra. Vì vậy, dạ dày của bé lúc này, như một bình rượu, vừa nhỏ, vừa nằm chên vênh, nút đậy lại có như không, nên rượu vào xong rất dễ bị tràn ra ngoài khi bình bị run, lắc, hoặc hơi đầy. Có thể có trào ngược “im lặng” – là khi thức ăn chỉ trào ngược lên vào thực quản, sau đó rớt lại xuống dạ dày, và có trào ngược “rõ ràng” – khi thức ăn trào ngược lên thực quản và ra khỏi miệng. Chúng ta chỉ thấy được trào ngược “rõ ràng” và không thấy được trào ngược “im lặng” của trẻ.
Hiện tượng này rất ư là phổ biến. Thống kê cho thấy tình trạng trào ngược có ở trên 85% trẻ dưới 1 tháng tuổi. Trào ngược sẽ nặng nhất và biểu hiện rõ nhất khi trẻ được 3-4 tháng tuổi. Đây là lúc ba mẹ bắt đầu cho trẻ bú lượng sữa nhiều hơn, ít lần hơn, và bé bắt đầu có nhiều cử động hơn, lật, trườn, vẹo qua vẹo lại. Khi trẻ khoảng 6 tháng tuổi và bắt đầu ngồi dậy được, bắt đầu ăn dặm, hiện tượng trào ngược sẽ giảm hẳn trên 60% trẻ bị trào ngược. Đến khi bé được 12 tháng tuổi, hầu hết các bé sẽ tự hết trào ngược, và chỉ còn 5% các bé còn bị trào ngược lai rai.
Tình trạng này có nguy hiểm không? Như đã nói ở trên, đây là một tình trạng sinh lý nên không nguy hiểm. Có một số trào ngược dạ dày là bệnh lý, hoặc do bệnh lý khác gây ra. Nhưng những trường hợp này rất hiếm gặp, và thường có những triệu chứng khác đi kèm. Nếu trẻ khó chịu, ói vọt nhiều lần (gắng sức), chậm tăng cân hoặc sụt cân, không chịu bú/ăn, hoặc có những triệu chứng khác kèm theo, ba mẹ nên cho trẻ đi thăm khám bác sĩ để được đánh giá và cho tư vấn, điều trị nếu cần nhé. Còn nếu trẻ trớ không gắng sức, sau đó vẫn vui vẻ, chơi, cười, cứ nên để tự nhiên và chấp nhận đó là điều bình thường của trẻ (giống như poo poo nhiều lần vậy).
Một trường hợp hơi khó nhằn, là trẻ trào ngược khi đang trong giai đoạn bị “Hội chứng quấy khóc ở trẻ sơ sinh” lúc 3-4 tháng tuổi. Lúc đó có thể gây rất nhiều lo lắng cho gia đình. Nếu ba mẹ không chắc và lo sợ, nên cho trẻ đi khám bác sĩ để đánh giá và tư vấn.
Nên làm gì để giảm trào ngược hoặc hết trào ngược?
Vì đây là một tình trạng sinh lý bình thường, nên bạn không thể nào bắt nó hết ngay được. Có một số cách làm giảm trào ngược, mà ta có thể suy luận ra từ tình trạng bình rượu trên, như: đừng làm đầy bình quá, đừng rung lắc nhiều quá, và nên cho trẻ ợ hơi sau ăn. Những việc làm này là để giúp cho ba mẹ và ông bà, không giúp được cho trẻ nhé, vì không làm thay đổi bất kỳ điều gì của hiện tượng này.
Việc thay đổi sữa mẹ qua sữa công thức, hoặc đổi qua các loại sữa công thức làm đặc sữa, uống thuốc chống trào ngược …là hoàn toàn không được khuyến khích. Vì chỉ có tác dụng điều trị cho ba mẹ ông bà, không “điều trị” cho trẻ (vì có phải là bệnh đâu mà điều trị). Những phương thức này chỉ là áp dụng điều trị đúng cho một số rất nhỏ các bé bị “bệnh trào ngược dạ dày thực quản” – khi trào ngược quá nặng, là bệnh, chứ không phải là sinh lý, và ảnh hưởng tiêu cực đến phát triển của bé, hoặc do một số bệnh lý khác đi kèm, như bại não, Downs, các bất thường cấu trúc bẩm sinh….. Và nên được đánh giá và quyết định bởi bác sĩ.
Đối với tình trạng trào ngược sinh lý, trẻ sẽ hết khi nào là do cơ thể từng trẻ quyết định. Vậy cho nên bạn có làm gì thì làm, cũng không thay đổi được điều này. Một trong những sai lầm thường gặp là khi trẻ trớ xong, lại được cho ăn ngay, giống y như bình rượu đã tràn mà cố tình đổ rượu thêm để tràn tiếp cho vui, vừa mệt mỏi, mắc công cho ông bà cha mẹ, lại làm khổ chủ nhân của bình rượu đã đầy!
Vậy cho nên, nếu trẻ trớ trong vui vẻ, chúng ta cũng nên vui vẻ chiều theo nhé. Còn nếu trẻ vui vẻ, mà ông bà cha mẹ lại lo, nên cho trẻ và ông bà cha mẹ đi khám bác sĩ chung để cải thiện “tâm lý” nhé. Đừng chạy đôn chạy đáo đi mua sữa này, đổi sữa kia, và lằn nhằn lẫn nhau trong khi “người ấy” vẫn happy và vui vẻ, nhé!!!
Táo bón
Táo bón là tình trạng trẻ đi poo poo cứng, và đi không thường xuyên. Tuy nhiên, tính chất phân và số lần đi cầu khác biệt ở từng trẻ. Đa số trẻ sẽ đi tiêu ít nhất một lần mỗi 2-3 ngày, nhưng có những trẻ có thói quen đường ruột khác biệt, và có thể đi cầu 1 lần một tuần – 10 ngày chẳng hạn. Chúng ta chỉ cần lo lắng về tính chất phân và số lần đi tiêu của trẻ nếu có những triệu chứng, dấu hiệu cho thấy trẻ bị ảnh hưởng vì một trong bốn tứ khoái của con người này.
Táo bón là một tình trạng xảy ra khá thường xuyên của con trẻ. Thống kê cho thấy có ít nhất 30% trẻ bị táo bón cần được quan tâm. Những dấu hiệu thường gặp để ba mẹ dẫn con đi khám là nếu trẻ lâu đi tiêu, poo poo lớn, cứng, đi cầu rặn đau, chảy máu, hoặc trẻ bị dây poo poo ra ngoài quần không kiểm soát được.
Tại sao chúng ta cần phải quan tâm về vấn đề này? Vì táo bón là một vấn đề phổ biến có thể gây nhiều hệ quả ngắn hạn và dài hạn. Ngắn hạn, trẻ có thể bị đau bụng từng cơm, giảm ngon miệng, giảm nhu cầu ăn do không thấy đói bụng như bình thường. Một số trẻ có thể rất quấy, khó chịu, và trở nên “khó tính”, cáu gắt hơn bình thường.
Về dài hạn, táo bón nhiều có thể làm nứt hậu môn, gây đau và chảy máu cho trẻ. Và sau đó dẫn đến hàng loạt những vấn đề đi kèm theo một vòng luẩn quẩn: vì bị đau, trẻ sợ đi và ráng nhịn đi toi let, không chịu ngồi bồn cầu, hoặc âm thầm dùng những tư thế như ngồi xổm, hoặc đứng chéo chân để chặn poo poo. Kết quả là poo poo của trẻ càng bị dồn lại, to hơn, cứng hơn, càng gây những triệu chứng đường tiêu hóa, và càng gây đau, chảy máu khi trẻ không còn nhịn đi cầu được nữa. Khi tình trạng táo bón nặng kéo dài, trực tràng và hậu môn của trẻ quen với việc bị căng đầy thường xuyên, nên mất đi khả năng báo động lên não để tạo một “nhu cầu” đi cầu cho trẻ, vì vậy trẻ mất đi khả năng “mắc cầu”, và poo poo bị đầy quá, tràn ra ngoài mà trẻ không nhận biết gì cả. Đây là một tình trạng nghiêm trọng và có thể cần phải nhập viện để thụt tháo đường ruột và làm những xét nghiệm để loại trừ các bệnh nền nguy hiểm.
Nhiều trẻ nhũ nhi dưới 6 tháng có thể rất khó chịu, khóc lóc khi rặn cầu, mặc dù phân mềm. Tình trạng này không phải là táo bón, mà là một tình trạng sinh lý bình thường khi trẻ vẫn chưa phối hợp đáp ứng thư giãn vùng cơ chậu khi tăng áp lực bụng cho phân để có thể đi cầu bình thường. Tình trạng này sẽ tự khỏi khi trẻ lớn hơn.
Nếu trẻ dưới 1 tuổi và bạn nghi con bị táo bón, nên cho trẻ đi khám bác sĩ để có lời khuyên và can thiệp đúng đắn, kịp thời.
Những nguyên nhân gây táo bón ở trẻ em bao gồm:
1. Xu hướng tự nhiên của trẻ: một số trẻ có nhu động ruột chậm, gây táo bón
2. Thói quen đường ruột: nhiều trẻ nhỏ mải chơi, ráng nhịn đi cầu, làm cho poo poo trở nên to hơn, cứng hơn. Vì vậy, nên dành “thời gian đi cầu” riêng cho trẻ.
3. Hành vi “nhịn cầu”: sau khi trẻ bị đau khi đi tiêu, trẻ sẽ dùng nhiều cách để tránh đi cầu, và vì vậy càng làm cho lần đi tiêu sau khó chịu và đau đớn hơn.
4. Khi có môi trường toilet mới (vd như khi trẻ đi học)
5. Chế độ ăn: Một số trẻ có xu hướng dễ táo bón, nếu ăn ít chất xơ, sẽ dễ bị táo bón hơn. Tuy nhiên, ở đa số các trẻ, chất xơ không phải là nguyên nhân chính gây táo bón, rất nhiều trẻ ăn đủ chất xơ nhưng vẫn bị táo bón và việc tăng lượng chất xơ ở những trẻ này không giúp trẻ hết bị táo bón. Việc cho uống sữa bò nhiều (trên 500ml/ngày) làm tăng nguy cơ bị táo bón ở trẻ.
6. Nứt hậu môn: gây đau, và làm cho trẻ tránh đi tiêu, làm trẻ táo bón nhiều hơn
7. Bệnh lý: có một số bệnh lý thần kinh, nội tiết có thể biểu hiện bằng táo bón ở trẻ. Tuy nhiên, tỉ lệ này rất hiếm gặp.
Vậy chúng ta nên tiếp cận vấn đề này như thế nào?
Điều quan trọng nhất, và cần sự kiên nhẫn của ba mẹ và ông bà nhất, là tập một thói quen đường ruột tốt cho trẻ, một cách ít áp lực nhất. Nên để thời gian “toilet” khoảng 3-5 phút tập cho trẻ ngồi toilet, sau mỗi cữ ăn, mặc dù trẻ có mắc cầu hay không, hay đã đi cầu trước đó hay chưa. Nếu trẻ đi học, ta có thể tập thói quen ngồi toilet mỗi ngày 5 phút sau đánh răng và 5 phút sau bữa ăn tối cho trẻ. Cho trẻ cầm theo một cuốn sách hay đồ chơi yêu thích khi ngồi cầu, và khen thưởng trẻ nếu trẻ làm được điều này (bằng lời khen, hoặc bằng những miếng dán sticker để khen thưởng…). Không nên la mắng, đánh đòn trẻ, vì nếu thế trẻ lại càng không phối hợp và càng tránh đi cầu.
Một số trẻ đi cầu phân cứng, đau, và vì vậy càng tránh đi cầu. Những trẻ này sẽ cần sự trợ giúp của bác sĩ, cho thuốc cho trẻ đi cầu dễ hơn, trong một thời gian vài tuần hay vài tháng, để giúp phân mềm ra, dễ đi tiêu vui vẻ hơn, và giúp nứt hậu môn có thời gian phục hồi. Khi đó, việc huấn luyện thói quen đi tiêu lành mạnh sẽ dễ dàng thiết lập, và làm cho trẻ lấy được niềm vui khi đi được poo poo. Khi trẻ được cho thuốc hỗ trợ, trẻ nên được tái khám theo hẹn, để điều chỉnh liều lượng và thời gian dùng thuốc, chứ không nên sử dụng thuốc hỗ trợ tùy ý mình.
Chế độ ăn lành mạnh: nên cho trẻ ăn các loại trái cây và rau củ thường xuyên trong và giữa các bữa ăn. Nước ép không chứa chất xơ, nên không được tính vào. Đồng thời nên giới hạn lượng sữa bò tiêu thụ mỗi ngày. Đối với trẻ từ 18 tháng tuổi, trẻ chỉ nên tiêu thụ tối đa 500ml sữa bò một ngày. Lượng sữa bò nhiều hơn sẽ gây táo bón cho trẻ. Cũng nên tránh các loại nước ngọt trước các cữ ăn. Giảm lượng sữa sẽ giúp cho trẻ thèm ăn hơn và ăn nhiều hơn ở các cữ ăn.
Những thông tin cần ghi nhớ:
• Tần suất và tính chất phân khác nhau ở từng trẻ.
• Bạn chỉ cần lo về táo bón nếu trẻ có vấn đề
• Táo bón có thể gây đau bụng, giảm thèm ăn, và cáu gắt ở trẻ
• Chế độ ăn không quan trọng mấy trong điều trị táo bón ở trẻ em (rất khác so với người lớn – vì ở người lớn, chế độ ăn đóng vai trò rất quan trọng trong nguyên nhân và điều trị táo bón).
Tiêu chảy ở trẻ em
Tiêu chảy (tên y khoa là gastroenteritis – viêm dạ dày ruột) là một nhiễm trùng đường ruột, đa số là do virus, một số trường hợp do vi khuẩn gây ra. Đây là một tình trạng khá phổ biến ở trẻ em, gây nhiều lo lắng, và chiếm phần lớn những đợt thăm khám, và nhập viện. Những thực hành của gia đình trong chăm sóc trẻ bệnh hiện vẫn còn nhiều hiểu lầm, hoặc theo kiểu dân gian nên không khoa học, và nên được thay đổi và điều chỉnh.
Trở lại với bệnh tiêu chảy, vì đường tiêu hóa bị bệnh nên ở phần dưới sẽ biểu hiện tiêu lỏng nước nhiều lần, và ở phần trên sẽ biểu hiện bằng ói ọc. Ở hầu hết các trường hợp, triệu chứng ói ọc xảy ra ở hai ngày đầu của bệnh, và đến ngày thứ 3 thì tự hồi phục và hết hẳn. Triệu chứng tiêu chảy thường nặng nhất ở những ngày đầu của bệnh, dây dưa khoảng 5-7 ngày, và đa số ngưng hẳn trong hai tuần. Sốt cũng là một triệu chứng phổ biến thường thấy, và đa phần không kéo dài quá 48 giờ. Một điều cần lưu ý, là đa số các trường hợp này đều không cần dùng thuốc, và bệnh tự phục hồi. Nhiệm vụ của người chăm sóc trẻ là hỗ trợ chăm sóc trẻ đúng cách, để tránh mất nước. Nhiệm vụ của bác sĩ, là thăm khám để loại trừ những bệnh nguy hiểm gây triệu chứng tương tự, và để tư vấn hỗ trợ trẻ và gia đình, theo dõi để có thể phát hiện các dấu hiệu mất nước nặng, nhiễm trùng nặng…đúng lúc để can thiệp hỗ trợ, đặc biệt trong 48 giờ đầu của bệnh.
Vấn đề hỗ trợ bù nước và dinh dưỡng cho trẻ bệnh tiêu chảy là vấn đề tối ưu trong chăm sóc trẻ. Trẻ nhỏ dưới 1 tuổi, đặc biệt dưới 6 tháng, rất dễ bị mất nước, và vì vậy cần phải được đánh giá theo dõi thường xuyên hơn, có khi mỗi 6-12 giờ. Những trẻ bị suy dinh dưỡng, hoặc có những bệnh mãn tính như bệnh thận, tim mạch, cũng cần được đánh giá cẩn thận hơn. Những dấu hiệu bé có thể bị mất nước bao gồm: lừ đừ (rất buồn ngủ và khó đánh thức ở những cữ ăn/bú sữa bình thường), khô môi miệng, không đi tiểu, tay chân lạnh. Nếu trẻ có một trong những dấu hiệu này, trẻ cần được khám bác sĩ ngay lập tức.
Đa số các trẻ tiêu chảy đều có thể được chăm sóc tại nhà. Điều trị chính là cho trẻ uống nước thường xuyên, để bù lại dịch mất đi từ ói và tiêu chảy. Vì đường ruột bị bệnh, chúng ta không thể cho trẻ uống quá nhanh và quá nhiều như bình thường, vì như thế trẻ sẽ ói lại ngay. Khuyến cáo thường dùng là bù dịch chậm, mỗi 15 phúc một lần, bằng cách uống từ từ, đút muỗng, hoặc bơm chậm qua bơm tiêm đường miệng, với mục tiêu cung cấp cho trẻ khoảng 10-20ml/kg/giờ khi trẻ ói nhiều. Dịch bù tốt nhất là Oresol hoặc Hydrolite. Dùng nước trái cây hoặc nước soda là lựa chọn sai, nên tránh, vì có thể tăng nguy cơ mất nước ở trẻ.
Nếu trẻ không đáp ứng, và vẫn ói nhiều, không dung nạp được dịch bù, nên cho trẻ đi khám. Các bác sĩ có thể đánh giá lại cách bù dịch, hướng dẫn làm đúng cách, hoặc nếu trẻ vẫn ói nhiều mặc dù đã làm đúng cách, các bác sĩ có thể quyết định hỗ trợ trẻ bằng thuốc chống ói và đặt sonde dạ dày để bù dịch qua sonde dạ dày cho trẻ. Rất nhiều ba mẹ nôn nóng khi con ói ọc, và đòi hỏi chích vein truyền dịch liền. Thật sự, bằng chứng nghiên cứu cho thấy, việc bù dịch qua sonde dạ dày cho trẻ là an toàn hơn, và hiệu quả hơn, so với bù dịch qua đường truyền tĩnh mạch. Việc chích vein truyền dịch hiện nay là lựa chọn cuối cùng, khi trẻ vẫn không dung nạp đường dịch bù qua sonde dạ dày, hoặc trẻ mất nước quá nặng, không thể đợi để bù qua sonde dạ dày được.
Không ít gia đình ngưng sữa, hoặc các sản phẩm của sữa khi trẻ bị tiêu chảy. Một số gia đình còn ngưng luôn thức ăn thường ngày của trẻ. Thực hành này hoàn toàn sai. Nên nhớ, ruột bệnh của trẻ vẫn cần dinh dưỡng, và trong những trường hợp tiêu chảy cấp dưới 2 tuần, sẽ không có tình trạng không dung nạp sữa. Vì vậy, thực hành này là nguy hiểm, vì có thể gây cho trẻ thiếu dinh dưỡng trong thời kỳ bệnh, nguy cơ hạ đường huyết vì không có năng lượng cung cấp, và làm tình trạng bệnh nặng hơn hoặc dây dưa hơn.
Khuyến cáo hiện nay là nên tiếp tục thức ăn hoặc sữa như bình thường cho trẻ trong thời gian bệnh. Đặc biệt, khi trẻ cần bù dịch, thì khi bù dịch xong, nên sử dụng lại sữa bình thường càng sớm càng tốt. Trẻ nhỏ thường sẽ có nhu cầu uống sau mỗi lần ói, vì vậy nên tiếp tục cho trẻ bú mẹ, hoặc bú bình. Tiếp tục cho trẻ ăn thức ăn dặm bình thường trong thời gian bệnh, và nên cho trẻ ăn bất kỳ thứ gì trẻ thích (ngoại trừ những thức ăn sống, không được nấu chín). Không nên ngưng sữa mẹ/sữa bình/ thức ăn quá 24 giờ. Chỉ cho trẻ uống nước trái cây và các loại nước soda khi tiêu chảy đã hoàn toàn ngưng hẳn.
Một điều cần lưu ý nữa, là bệnh này rất dễ lây, vì vậy người chăm sóc trẻ nên rửa tay bằng xà phòng thường xuyên, và lau tay khô sau rửa, để hạn chế nguy cơ lây lan của bệnh. Nên rửa tay sau mỗi lần thay tã hoặc chăm trẻ đi toilet, và trước khi chuẩn bị thức ăn, hoặc trước khi ăn. Những khăn tắm, lau cho trẻ bệnh nên chỉ được sử dụng cho trẻ. Trẻ khi bị bệnh nên được ở nhà, và không cho đi học hoặc đi mẫu giáo. Chỉ cho trẻ đi học lại sau 48 giờ từ lần tiêu chảy/ói ọc cuối cùng (2 ngày sau khi hết triệu chứng). Không nên cho trẻ đi bơi cho đến 2 tuần sau lần tiêu chảy cuối cùng.
Thông tin cần ghi nhớ:
1. Trẻ nhỏ rất dễ bị mất nước – vì vậy nên cho uống nước bù thường xuyên
2. Trẻ dưới 6 tháng nên được khám bác sĩ ngay khi bệnh, và có thể cần đánh giá thường xuyên mỗi 6-12 giời
3. Trẻ nhỏ thường uống sau mỗi lần trẻ ói. Tiếp tục cho trẻ bú sữa. Không nên ngưng sữa quá 12-24 giờ.
4. Tiếp tục cho trẻ ăn nếu trẻ muốn, không ngưng cho ăn quá 24 giờ
5. Trẻ nhỏ rất dễ lây bệnh, vì vậy, nên rửa tay thường xuyên khi chăm sóc trẻ.
6. Nên cho trẻ tránh các trẻ khác, vì dễ lây bệnh cho các bạn, cho đến khi bệnh ngưng hẳn.
Khi nào bạn nên cho bé đi khám bác sĩ khi bé bị tiêu chảy?
• Nếu bé không uống được, mà vẫn còn ói và tiêu chảy
• Nếu bé bị tiêu chảy nhiều (8 tới 10 lần đi phân lỏng một ngày, hoặc 2-3 lần đi phân nước rất nhiều mỗi ngày), hoặc nếu bé vẫn còn bị tiêu chảy sau 10 ngày
• Nếu bé ói thường xuyên và không thể dung nạp được bất kỳ chất lỏng nào.
• Nếu bạn nghĩ bé bị mất nước: vd: không đi tè, nhợt nhạt, sụt cân nhiều, mắt trũng, tay chân lạnh, hoặc ngủ li bì khó đánh thức
• Nếu bé bị đau bụng nhiều
• Nếu bạn thấy trong phân có máu
• Nếu bé ói ra dịch xanh lá cây
• Hoặc nếu bạn có BẤT KỲ lo lắng nào
Ôi chao cái chuyện đi cầu!
Một cái đít nhỏ xíu mới gia nhập vào nhà, mà nó cũng không hiểu sao có nhiều người (lớn ơi là lớn) quan tâm đến nó như thế! Ngày nào cũng bàn về nó, theo kiểu rất xôn xao í. Mấy tuần đầu, nó còn nhỏ quá, nên cứ hay bị đầy, mỗi lần cái miệng bú sữa là nó lại sản xuất poo poo, có ngày mười lần hơn. Vậy mà người ta tò mò lắm, cứ mỗi poo poo của nó xong là lại được xăm xoi, bình luận, đến nỗi nó phát ngượng luôn, nhưng biết sao dừng được!
Một hôm, nó quyết định nghỉ xả hơi một hai ngày. Ôi, thế là người ta lo lắng, lúc nào thay tả mà không có poo poo lại phàn nàn. Rồi đem nó ra xăm xoi cả trăm lần ngày. Nó ngượng quá, quyết định nghỉ thêm mấy ngày nữa. Thế là nó làm cả nhà chục người hoảng loạn lên. Nó chưa bao giờ nghĩ nó quan trọng đến thế. Mà nó không thể hiểu được, chủ của nó vẫn chơi, vẫn bú, vẫn cười, vẫn ngủ, cái bụng cũng chẳng phàn nàn, mà sao những người không liên quan lại làm kinh đến vậy. Có người lấy cái bông gòn mềm mềm nhột nhột quẹt quẹt vào nó, có ngườ còn dọa thụt thụt cái gì vào nó cho nó ra poo poo nữa kìa. Thật là một sự đe dọa đầy kinh khủng. Thêm vài ngày nữa, nó cảm thấy đầy quá không nghỉ được nữa, nên lại phải ra poo poo. Ôi trời, phải nói là hôm đó nó thấy mình vĩ đại vì mang lại hạnh phúc vô tận cho quá nhiều người. Nhưng chủ của nó thì lại bình chân như vại, vẫn chơi, vẫn bú, vẫn ngủ, vẫn cười. Vậy thì thật sự chuyện gì đang xảy ra thế nhỉ?!
Nếu ba mẹ và ông bà thấy mình qua mẩu chuyện trên, đây là những điều nên biết:
Mỗi trẻ sơ sinh có thói quen đường ruột khác nhau. Trong những tuần đầu đời, một số trẻ đi cầu thường xuyên, gần như mỗi lần cho bú là một lần đi cầu, có thể hơn 10 lần/ngày, một số trẻ chỉ đi một hoặc vài lần trong tuần. Một hai ngày đầu, trẻ sẽ đi phân su - màu xanh đen, dính đặc. Những ngày sau đó, phân của trẻ sẽ chuyển sang màu xanh. Vào cuối tuần đầu đời, phân trở nên vàng và vàng nâu. Trẻ được bú mẹ hoàn toàn thường đi cầu thường xuyên hơn, và lỏng nước hơn so với trẻ được bú sữa công thức.
Sau ba tuần tuổi, thói quen đường ruột của trẻ được điều chỉnh lại từ từ. Từ sáu tuần tuổi trở đi, đa số các trẻ sẽ đi 3-5 lần / ngày, trong khi một số trẻ lại giữ thói quen đường ruột ít hơn, chỉ 1 lần mỗi 7 ngày – 10 ngày.
Thỉnh thoảng, đường ruột của bé có thể “đình công” vài ngày, đến 1-2 tuần. Điều này là bình thường. Nếu bé vẫn vui vẻ, chơi đùa, và bú tốt, không ói ọc nhiều hơn bình thường, bạn không cần làm gì để can thiệp cả. Vì nếu có can thiệp lúc này, là “chữa tâm lý” cho ba mẹ ông bà, chứ chẳng có lợi gì cho bé.
Việc thụt tháo bằng bơm ống để bé đi cầu không những gây rất khó chịu cho con trẻ, mà còn có nguy cơ làm rách hậu môn – thủng trực tràng ở những trẻ nhỏ này nếu người nhà không làm đúng cách, vì những cơ quan của các bé lúc này rất mỏng manh, dễ tổn thương. Bơm ống hoàn toàn là một việc chống chỉ định cho người nhà. Nếu thật sự cần làm, việc này phải được quyết định và thực hiện bởi nhân viên y tế.
Những dấu hiệu bạn nên lo lắng và cho bé đi khám bác sĩ ngay:
• Nếu bé không đi cầu phân su sau 48 giờ đầu đời.
• Nếu bé sốt
• Nếu bé mệt mỏi, lừ đừ, biếng bú, ói nhiều lần
• Nếu bé đi cầu nhiều lần, phân lỏng, nhiều nước
• Nếu trong phân có máu
• Nếu bé đi 1 lần trong vài ngày, phải rặn rất nhiều, và phân to cứng, hoặc khô có rãnh nứt, hoặc dính máu (bón)
• Nếu sau vài ngày không đi cầu, bụng bé chướng to kèm ói ọc nhiều lần hơn bình thường.
Nếu bé thực sự bị bón, nguyên nhân thường gặp là do sữa công thức bé dùng, hoặc pha sữa không đúng cách. Bạn có thể xem xét lại cách sử dụng của mình và có thể đổi sang loại sữa công thức khác. Nếu sau đó vẫn còn bón, nên tư vấn bác sĩ để có thể có lời khuyên đúng về việc nên đổi sữa hay không, và nếu có đổi, thì nên dùng loại nào. Đừng nên tự ý chuyển hẳn qua sữa công thức “giàu chất xơ” ngay, vì có thể không cần thiết và hợp lý.
Chúc ba mẹ và ông bà sau khi đọc bài này bớt xì trét về chuyện poo poo của con cháu, để dành tâm trí thảnh thơi để vui vẻ với nhau và chơi đùa với con cháu nhé .
Bạn có biết? Tăng cân ở những năm đầu đời của trẻ:
Đa số các trẻ sinh ra có cân nặng lúc sinh từ 2.5 đến 4.5 kg.
Trong tuần đầu đời, trẻ thường sụt cân, khoảng 10% trọng lượng cơ thể ban đầu (vd như khi sinh ra được 3kg, thì sau 7 ngày tuổi, trẻ có thể chỉ còn khoảng 2.7kg)
Trẻ thường lấy lại cân nặng lúc sinh trong khoảng từ 10 ngày – 14 ngày tuổi.
Rất khó định nghĩa “tăng cân bình thường” ở trẻ nhỏ, tuy nhiên, những giá trị tăng cân sau được xem là khoảng tăng cân thông thường của trẻ:
• Từ 0 – 3 tháng tuổi, trẻ tăng được khoảng 150-200 gram / tuần (tức khoảng 20-30gram/ngày)
• Từ 3 tháng đến 6 tháng tuổi: trẻ tăng trung bình khoảng 100 gram đến 150 gram / tuần (tức khoảng 15-20gram mỗi ngày)
• Khi trẻ khoảng 6 tháng đến 12 tháng tuổi, tăng cân giảm còn khoảng 70-90gram/tuần (tức khoảng 10gram/ngày)
• Từ 1 tuổi đến 2 tuổi, trẻ tăng được khoảng 2-3 kg/năm
• Từ 2 tuổi đến 5 tuổi, trẻ tăng trung bình khoảng 2 kg mỗi năm.
THỦY ĐẬU.
Thuỷ đậy là một bệnh nhiễm virus có tên Varicella virus. Thời gian ủ bệnh từ khi nhiễm virus đến khi có triệu chứng là khoảng 10 đến 21 ngày, trung bình là 2 tuần. Khi phát bệnh, trẻ có những dấu hiệu sau:
• Sốt nhẹ
• Cảm thấy mệt mỏi và quấy
• Ngứa
• Ban bong nước, thường xuất hiện đầu tiên ở ngực, lưng hoặc mặt, sau đó đi lan ra các phần khác của cơ thể, đôi khi có thể xuất hiện trong miệng. Ban đầu, sẩn da nhìn giống những đầu mụn nhỏ, sau đó trở thành các bóng nước.
Ở đa số các trường hợp, tương tự như những trường hợp nhiễm virus khác, ngừơi bệnh sẽ khó chịu trong vòng 5 đến 7 ngày, sau đó từ từ tự hồi phục. Đây là một trong những bệnh nhiễm virus hiếm hoi có thể điều trị bẳng thuốc kháng virus đặc hiệu. Tuy nhiên, chỉ có một số ít trường hợp cần chỉ định thuốc kháng virus – điều này nên được đánh giá và quyết định bởi bác sĩ. Đa số các trường hợp không cần điều trị bằng thuốc kháng virus, mà chỉ điều trị triệu chứng như giảm đau, giảm sốt, giảm ngứa khi cần.
Trong đợt bệnh, trẻ, đặc biệt là trẻ nhỏ, sẽ biếng ăn uống, vì vậy nên chú ý hỗ trợ cho trẻ giúp trẻ uống đủ nước và ăn, uống sữa từ từ, từng lượng nhỏ. Có thể cho trẻ uống từng ngụm nước, súp, hoặc mút kem đá, nhằm tránh mất nước cho trẻ.
Đây là một bệnh cực kỳ dễ lây nhiễm, và vì vậy dễ bị bệnh khi tiếp xúc với người mang bệnh. Thời gian lây nhiễm của bệnh bắt đầu từ 1-2 ngày trước khi có triệu chứng lâm sàng, và kéo dài cho đến khi các bóng nước cuối cùng khô hẳn. Trẻ khi bị thuỷ đậu nên để ở nhà, không được đi học để hạn chế lây bệnh cho các bạn và thầy cô trong trường. Một số thành viên trong gia đình như trẻ sơ sinh, phụ nữa có thai chưa bị thuỷ đậu bao giờ, hoặc những người bị bệnh làm suy giảm hệ miễn dịch như ung thư đang điều trị, hoặc bệnh cần dùng các loại steroids dài hạn, nên cách ly hoàn toàn với trẻ. Đa số những người đã bị thuỷ đậu rồi không bị lại lần nữa.
Một số ít trường hợp các bóng nước có thể bị nhiễm trùng kèm theo, và có thể phải cần đánh giá của bác sĩ để quyết định điều trị kháng sinh. Khi trẻ vừa bị bệnh, nên cắt móng tay cho trẻ, để giảm tổn thương da khi trẻ gãi do ngứa, giảm nguy cơ nhiễm trùng đi kèm.
Biến chứng của bệnh xảy ra ở một số ít trường hợp mà thôi. Tính ra, khoảng 1 trong 5000 người bị thuỷ đậu sẽ có biến chứng viêm não, và 3 trong 100,000 ca bệnh sẽ tử vong.
Thuỷ đậu là một bệnh có thể phòng ngừa được hữu hiệu bằng vaccine ngừa thuỷ đậu, có thể bắt đầu chích ngừa thuỷ đậu từ lúc trẻ được 1 tuổi. Tuỳ từng loại vaccine thuỷ đậu, trẻ có thể cần chỉ một liều duy nhất trong đời, hoặc cần hai liều, cách nhau tối thiểu 1 tháng. Tại nhiều quốc gia, chích ngừa thuỷ đậu được đưa vào khuyến cáo chích ngừa thường qui cho trẻ.
Những điểm cần gi nhớ:
• Bệnh thuỷ đậu rất dễ lây nhiễm
• Bệnh đa số tự hết và hiếm có biến chứng, chỉ cần điệu trị hỗ trợ triệu chứng
• Kháng sinh chỉ được sử dụng khi có nghi ngờ nhiễm trùng đi kèm
• Thời gian ủ bệnh là 10-21 ngày.
• Thời gian lây bệnh là 1-2 ngày trước khi có triệu chứng, cho đến khi tất cả các bóng nước khô mặt hẳn.
• Cách ly và tránh tiếp xúc là biện pháp cần có để tránh lây nhiễm.
• Vaccine thuỷ đậu có thể phòng ngừa bệnh hiệu quả.
Bệnh tay chân miệng
Bệnh tay chân miệng là một bệnh nhiễm virus khá phổ biến ở trẻ em, đặc biệt là trẻ nhỏ. Bệnh được đặc trưng, như tên gọi, bởi các sẩn da dạng bóng nước ở tay, chân, mông, gối, khủy tay, và những vết loét ở miệng.
Tại Việt Nam, bệnh xảy ra quanh năm.
Bệnh tay chân miệng ở người hoàn toàn khác với bệnh lở mồm long móng ở súc vật như heo, trâu bò, cừu. Hai bệnh này không liên quan gì đến nhau, và gây ra bởi hai nhóm virus hoàn toàn khác nhau.
Bệnh tay chân miệng gây ra bởi một nhóm virus có tên là enterovirus, nhóm này có nhiều chủng nhỏ khác nhau. Coxsakievirus A16 là virus gây bệnh phổ biến nhất, bệnh với virus này thường nhẹ, tự hết và ít biến chứng. Enterovirus, đặc biệt là Enterovirus 71, là loại thường có liên quan đến những biến chứng nguy hiểm, và tử vong, tuy nhiên, số ca do virus này gây ra không nhiều.
Bệnh tay chân miệng có nghiêm trọng không?
• Đa số các trường hợp bị tay chân miệng phục hồi hoàn toàn, không biến chứng trong 7-10 ngày.
• Mất nước là biến chứng phổ biến nhất của tay chân miệng do Coxsackievirus, do trẻ bị đau miệng và không chịu ăn uống gì.
• Trong một số ít trường hợp, đặc biệt các ca do Enterovirus 71, bệnh có thể có biến chứng viêm màng não, viêm não, và có thể trở nên nghiêm trọng.
Diễn tiến bệnh, dấu hiệu và triệu chứng:
• Bệnh tay chân miệng rất dễ lây, vì bệnh lây từ người này sang người khác qua tiếp xúc trực tiếp với dịch mũi, miệng, nước miếng, dịch từ các bong nước, và phân của người bệnh. Người bị bệnh thường dễ lây cho người khác nhất trong tuần đầu tiên của bệnh. Bệnh tay chân miệng không truyền qua người từ nguồn súc vật hoặc thú nuôi trong nhà.
• Bệnh tay chân miệng đa số xảy ra ở trẻ dưới 10 tuổi, phổ biến nhất ở trẻ dưới 5 tuổi. Trẻ càng nhỏ càng dễ có triệu chứng nặng hơn. Đa số người lớn đã có miễn dịch đầy đủ nên ít bị bệnh hơn, nhưng cũng có những ca tay chân miệng được báo cáo ở trẻ vị thành niên và người trưởng thành.
• Thông thường, thời gian ủ bệnh là 3-7 ngày.
• Khi phát bệnh, sốt là triệu chứng thường gặp đầu tiên, và trẻ thường chỉ sốt trong 1-2 ngày đầu. Khi đó, trẻ cũng có những dấu hiệu rất chung chung, không đặc hiệu, như kém ăn, mệt mỏi, và thường than đau họng (nhưng chưa có loét).
• 1-2 ngày sau khi bắt đầu sốt, trẻ bắt đầu có những vết chấm đỏ trong miệng, dần phát triển thành bong nước và vỡ ra thành vết loét. Những vết loét này thường xuất hiện ở lưỡi, lợi, và vòm hầu, họng, mặt trong má.
• Sẩn da cũng xuất hiện trong thời gian này, với những chấm đỏ, phẳng hoặc gồ lên, và nhiều khi phát triển thành bóng nước, thường phân bố ở lòng bàn tay, lòng bàn chân, mông, vùng khủy tay và đầu gối.
• Một số ít trường hợp, khi trẻ bị biến chứng nặng, sẽ có những dấu hiệu thần kinh và hệ thống. Đây là những trẻ cần được theo dõi sát và được quyết định điều trị chuyên biệt kịp thời.
Những dấu hiệu được xem là quan trọng mà ba mẹ cần nhận biết để cho trẻ đến tái khám ngay, bao gồm:
• Sốt từ 39 độ C trở lên, hoặc trên 2 ngày.
• Ói nhiều
• Đừ nhiều
• Thở nhanh / thở khó
• Quấy khóc, bứt rứt
• Giật mình hốt hoảng nhiều lần
• Run giật cơ
• Yếu chi
• Mất thăng bằng khi đi đứng
• Da nổi bông
• Nếu ba mẹ có bất kỳ điều gì lo lắng
Điều trị bệnh tay chân miệng như thế nào?
Như đã nói ở trên, đây là một bệnh do virus, và thường tự hết, nên đa số các trẻ chỉ cần điều trị hỗ trợ trong thời gian bệnh để chờ tự hết. Trẻ bị viêm loét miệng lưỡi rất đau, vì vậy trẻ rất quấy, than khóc, và không chịu ăn uống gì, do đó dễ bị mất nước, hạ đường huyết. Những trẻ này cần được cho giảm đau, và khuyến khích ăn uống chậm, ít lại, nhiều lần hơn, với những thức ăn lỏng, mềm, dễ nuốt, và cho uống nhiều nước. Nhiều trẻ sẽ chịu đồ lạnh hơn, vì có thể làm giảm đau ở vết loét cho trẻ. Không cần tránh các thức ăn, thức uống lạnh, như nước đá, kem, yaourt…, mà ngược lại, có thể thử cho trẻ những thức này, để xem trẻ có dễ chịu hơn phần nào hay không.
Đối với những trường hợp nghi ngờ bị biến chứng thần kinh, hoặc có những dấu hiệu, tiêu chuẩn nghi ngờ khả năng/nguy cơ bị biến chứng thần kinh cao, các bác sĩ sẽ quyết định cho trẻ nhập viện để bắt đầu điều trị hỗ trợ chuyên biệt, hoặc để có thể theo dõi sát các dấu hiệu nặng nhằm can thiệp kịp thời. Vì khi trẻ bị biến chứng thần kinh, bệnh có thể diễn tiến rất nhanh và rất trầm trọng, mà nếu phát hiện trễ, qua “thời điểm vàng”, các can thiệp chuyên sâu sẽ không được hữu hiệu bằng, và vì vậy, hệ quả bệnh sẽ không được tối ưu.
Khi bị bệnh rồi, có bị bệnh lại nữa được không?
Khi một người bị bệnh tay chân miệng, sau đợt bệnh này, chỉ phát triển miễn dịch chống lại Virus gây đợt bệnh này mà thôi. Trong khi đó, nhóm enterovirus bao gồm rất nhiều loại virus khác nhau, vì vậy, người đó vẫn có thể bị lại bệnh tay chân miệng, nhưng gây ra bởi loại virus khác so với virus ban đầu.
Có thể phòng ngừa bệnh tay chân miệng không?
HIện nay không có thuốc giết virus đặc hiệu, cũng như không có vaccine nào để phòng ngừa bệnh. Tuy nhiên, nguy cơ bị nhiễm bệnh có thể được giảm đi nếu chúng ta thực hiện những phương pháp vệ sinh tốt, như:
• Thường xuyên rửa tay bằng xà phòng, đặc biệt là sau khi chạm vào những vết loét, bóng nước của người bị bệnh, trước khi sửa soạn thức ăn, trước khi ăn, trước khi cho trẻ ăn, và sau khi sử dụng toilet và sau khi thay tả cho trẻ.
• Lau sạch những bề mặt và những đồ chơi có thể “bị nhiễm”, bằng xà phòng và nước trước, sau đó tiệt trùng bằng nước tẩy rửa chứa chlor (chlorine) pha loãng.
• Tránh tiếp xúc gần, như ôm hôn, dùng chung muỗng nĩa, chén, với người bệnh.
• Không cho trẻ đi học, hoặc đến các nơi vui chơi, tập trung của các trẻ nhỏ (công viên vui chơi, nhà banh, hồ bơi…) cho đến khi trẻ hết bệnh hoàn toàn (thường sau 7-10 ngày sau khi khởi bệnh).
• Dạy trẻ che miệng, mũi khi ho hoặc hắt xì
• Bỏ các tả dơ, giấy chùi, khăn ướt khi chăm sóc trẻ bệnh vào bịch rác và đậy lại kỹ càng.
• Giữ sạch nhà cửa, trường học, hoặc trường mẫu giáo.
Những thông tin cần ghi nhớ:
• Bệnh tay chân miệng thường xảy ra ở trẻ em, đặc biệt là trẻ nhỏ. Trẻ càng nhỏ càng dễ bị triệu chứng nặng hơn.
• Đa số các trường hợp tự hết trong khoảng 7 ngày, và chỉ cần điều trị hỗ trợ. Chú ý khuyến khích cho trẻ ăn uống để tránh mất nước.
• Một số ít trường hợp có nguy cơ biến chứng thần kinh sẽ được tư vấn nhập viên để theo dõi và can thiệp điều trị kịp thời.
• Trẻ bệnh dễ lây bệnh cho trẻ khác, nhất là trong 7 ngày từ khi phát bệnh, vì vậy nên cách ly trẻ khỏi trường và khu vui chơi.
• Nên theo dõi sát trẻ khi chăm sóc tại nhà, để có thể nhận biết các dấu hiệu nguy hiểm và cho trẻ tái khám đúng lúc.
• Rửa tay và giữ vệ sinh tốt, hạn chế tiếp xúc với dịch cơ thể của người bệnh, là biện pháp phòng ngừa hữu hiệu nhất.
Keo tai – Viêm tai giữa có dịch (Glue ear)
Như đã trình bày ở bài trước, đa số các trẻ dưới 5 tuổi gần như có ít nhất 1 lần viêm tai giữa cấp, và việc một trẻ nhỏ có nhiều lần viêm tai giữa cũng được xem là một điều khá phổ biến. Đa số các viêm tai giữa cấp ở trẻ nhỏ thường cải thiện nhanh và thường không nguy hiểm. Tuy nhiên, một số trẻ bị viêm tai giữa tái đi tái lại có thể phát triển tình trạng Keo tai.
Keo tai, tên y khoa là “Viêm tai giữa có dịch”, là tình trạng có dịch (fluid) trong khoang tai giữa (xem hình minh họa). Dịch này có thể đặc và dính nhầy như keo, nên được gọi là keo tai. Keo tai có thể do tình trạng viêm tai giữa cấp gây ra. Tuy nhiên, cũng có một số trường hợp tự phát (có nghĩa là không thấy có lí do nào gây ra dịch), và có thể được tìm thấy ngẫu nhiên trong thăm khám trẻ. Nghiên cứu cho thấy, 80% trường hợp keo tai sẽ tự hồi phục trong vòng 3 tháng, 20% còn lại có thể dây dưa lâu dài.
Tình trạng này được quan tâm, vì khi có dịch nhầy trong khoang tai giữa, sẽ có thể ảnh hưởng đến sự rung của màng nhĩ, và vì vậy có thể làm giảm thính lực của trẻ, làm trẻ khó nghe hơn. Nếu cả hai tai đều bị ảnh hưởng, thính lực của trẻ có thể bị hạn chế đáng kể và có thể gây ra nhiều vấn đề phát triển ngôn ngữ và giao tiếp trong quá trình lớn lên của trẻ.
Dấu hiệu và triệu chứng của keo tai là gì?
Trẻ bị keo tai thường không có biểu hiện ốm đau gì, mà đa phần chỉ biểu hiện bằng nghe không rõ – đây là triệu chứng quan trong nhất. Trẻ nhỏ thường không “nhận biết” và “nói” được vấn đề giảm thính lực của mình, và ba mẹ có thể thường hiểu lầm là trẻ “làm ngơ” mình. Những dấu hiệu ba mẹ cần để ý, để xem bé có cần được thăm khám và đánh gia hay không, bao gồm:
• Khi trẻ cứ yêu cầu người nói chuyện với mình lập lại lời nói
• Khi tre nói rất to hơn cần thiết
• Khi trẻ nghe lộn hoài
• Khi trẻ cứ yêu cầu vặn ti vi lên to hơn
Keo tai được chẩn đoán bằng việc thăm khám tai trẻ bằng đèn soi tai, để xem cấu trúc màng nhĩ có thay đổi, có dịch sau màng nhĩ hay không. Một số trường hợp, bác sĩ có thể dùng những dụng cụ khác thêm để đánh giá, nhưng điều này thường chỉ cần trong một số ít trường hợp. Nếu có nghi ngờ giảm thính lực, bác sĩ có thể đề nghị cho con bạn đo thính lực để đánh giá mức độ nặng nhẹ và để giúp cho việc theo dõi lâu dài.
Keo tai được điều trị như thế nào?
Thông thường, điều trị tốt nhất cho tình trạng keo tai là “chờ đợi”. Đa số các trẻ bị keo tai sẽ tự cải thiện mà không cần can thiệp, vì vậy, bác sĩ thường sẽ hẹn con bạn lại tái khám sau vài tuần hoặc vài tháng để đánh giá lại sau.
Nếu dịch vẫn còn sau màng nhĩ sau 3 tháng, các lựa chọn điều trị bao gồm:
• Tiếp tục theo dõi – đây là lựa chọn khi trẻ vẫn không bị ảnh hưởng thính lực và phát triển. Khi trẻ lớn lên, ống thông Eustachian cũng lớn ra, và hoạt động tốt hơn, vì vậy có thể sẽ thoát dịch ứ đọng ra được.
• Kháng sinh: đôi khi, bác sĩ có thể khuyến cáo dùng kháng sinh vài tuần để giúp giết các vi trùng còn lại, và thực hành này có thể giúp dịch mất đi.
• Phẫu thuật: Nếu dịch vẫn còn sau vài tháng theo dõi, và ảnh hưởng lên thính lực và phát triển của trẻ, bác sĩ có thể khuyến cáo làm một cuộc phẫu thuật nhỏ, đưa “ống tai” vào màng nhĩ để thông khoang tai giữa, giúp thoát dịch, mủ, và tránh tình trạng ứ đọng dịch.
Khi trẻ bị keo tai, giảm thính lực và trong thời gian quan sát, đợi tự hết dịch, bạn nên hỗ trợ phát triển ngôn ngữ và giao tiếp của trẻ nhiều nhất có thể, bằng cách:
• Nói chuyện với trẻ chậm lại, và rõ ràng
• Cố gắng giúp trẻ thấy được mặt và miệng của bạn khi bạn nói chuyện với trẻ, và cố gắng giảm tiếng ồn
• Nên nói cho thầy cô giáo biết tình trạng của con mình, để thầy cô có thể hỗ trợ tốt hơn trong việc giao tiếp và giảng bài, có thể đề nghị cho trẻ ngồi những hàng đầu bàn để trẻ có thể nghe được tốt hơn.
Chăm sóc tại nhà:
• LUÔN LUÔN TRÁNH KHÔNG HÚT THUỐC TRONG NHÀ HOẶC XUNG QUANH TRẺ. Tất cả các loại khói thuốc hút mà trẻ hít vào sẽ làm tổn thương ống thông Eustachian, và làm cho dịch trong khoang tai không thoát được ra ngoài.
• Chỉ sử dụng núm vú giả khi cần dỗ trẻ, không cho trẻ dùng suốt ngày, vì có thể làm tình trạng tệ hơn.
• Nếu trẻ than đau, hỗ trợ giảm đau bằng cách cho trẻ uống thuốc giảm đâu, như Paracetamol.
NHỮNG THÔNG TIN CẦN LƯU Ý:
• Keo tai gây ra do viêm tai giữa thường xuyên, hoặc có dịch trong tai giữa.
• Thường không cần điều trị, chỉ cần theo dõi theo thời gian
• Đôi khi, trẻ cần một cuộc phẫu thuật nhỏ để đặt ống thông tai qua màng nhĩ để thoát dịch
• Phát triển thính lực và ngôn từ giao tiếp đôi khi có thể bị ảnh hưởng nếu tình trạng keo tai bị kéo dài.
Bạn đã chích ngừa cho con bạn và bạn chưa? – Kỳ 1: HO GÀ.
Ho gà (tên tiếng Anh là Pertussis), là một lây nhiễm đường hô hấp do vi khuẩn có tên Bordetella Pertussis.
Ba mẹ không cần nhớ cái tên phức tạp này. Điều mà ba mẹ và ông bà cần nhớ, và cũng là lý do cái tên này được đề cập ở đây, là vì đây là một bệnh rất dễ lây, và LÀM CHẾT NHIỀU NGƯỜI NHẤT trong tất cả các loại bệnh có thể NGỪA ĐƯỢC BẰNG CHÍCH NGỪA! Thống kê của tổ chức y tế thế giới cho thấy mỗi năm trên thế giới có khoảng 20 triệu đến 40 triệu ca bệnh ho gà được chẩn đoán, gây tử vong ở 300 ngàn trường hợp mỗi năm. 90% các ca bệnh là ở các nước đang phát triển.
Điều tệ nhất là, đa số các ca bệnh và ca tử vong xảy ra ở trẻ nhỏ, đặc biệt ở nhóm trẻ dưới 6 tháng tuổi – khi hệ miễn dịch của trẻ chưa đủ khỏe, và nhất là khi trẻ chưa hoàn tất 3 mũi chích ngừa cơ bản có phòng ngừa bệnh ho gà!
Điều tệ thứ 2 là, người lây bệnh cho trẻ, ở đa số các trường hợp, lại là người nhà, tiếp xúc thường xuyên với trẻ. Những người lớn này mang mầm bệnh mà không bị bệnh, hoặc bị bệnh mà triệu chứng rất nhẹ, như một cơn cảm, sổ mũi thông thường. Và chúng ta chỉ biết là bệnh Ho gà khi trẻ nhỏ trong nhà bị nhiễm bệnh, phải nhập viện, và làm các xét nghiệm chẩn đoán. Khi đó đã quá muộn để có thể can thiệp phòng ngừa.
Trở lại với nguyên lý của bệnh ho gà. Thời gian ủ bệnh trung bình là khoảng 1 tuần. Sau đó, người bệnh có thêm 1 tuần bị những triệu chứng không đặc hiệu: ho, sổ mũi, mệt người, thường không sốt. Sau đó, như tên gọi, bệnh gây triệu chứng điển hình là ho thành từng cơn, ho nhanh đến mức không thở được, và vì vậy, sau cơn ho, người bệnh thường cố gắng hít vào thật nhanh, có thể tạo ra tiếng rít giống như tiếng rù cổ của con gà. Trẻ dễ dàng bị ói sau cơn ho, và bình thường giữa các cơn ho.
Tuy nhiên, điều khó khăn trong chẩn đoán là do những trường hợp bệnh có triệu chứng điển hình kể trên thường không nhiều, và thường chỉ gặp ở trẻ em. Người lớn bị ho gà đa số lại có những triệu chứng không điển hình, rất dễ lẫn lộn với những trường hợp viêm đường hô hấp trên thông thường. Ở trẻ rất nhỏ, trẻ có thể không bị những cơn ho, mà lại có những cơn ngưng thở, ói ọc, đừ không rõ nguyên nhân. Ở trẻ nhỏ dưới 1 tuổi, đặc biệt trẻ dưới 6 tháng, bệnh rất dễ gây biến chứng nặng, như hạ đường huyết, mất nước do ói nhiều,ngưng thở, viêm phổi, và ảnh hưởng não, và vì vậy, nguy cơ tử vong là cao nhất trong nhóm tuổi nhỏ này.
Bệnh ho gà dễ lây như thế nào? Bệnh lây qua đường khí: người bị bệnh khi ho sẽ phát tán vi khuẩn khắp nơi, trong không khí và lên các vật dụng trong phòng. Người ở gần có thể hít vi khuẩn gây bệnh vào, và bị bệnh. Có người khi tay chạm vào những đồ vật bị nhiễm vi khuẩn trong phòng, khi đưa tay sờ lên mũi, cũng có khả năng bị bệnh luôn. Người ta thống kê thấy rằng, nếu 1 người trong nhà bị ho gà, khả năng những người còn lại cũng bị nhiễm bệnh lên đến 70% - 100%!
Vì những triệu chứng không điển hình trong giai đoạn đầu, bệnh ho gà thường được chẩn đoán rất trễ, trong giai đoạn khi cơn ho kéo dài dai dẳng, lúc đó bệnh đã có khả năng lây lan xong rồi. Bệnh cũng có một đặc điểm nữa là, kháng sinh được dùng để tránh những biến chứng nặng, giảm khả năng lây bệnh, và còn dùng để phòng ngừa cho người tiếp xúc khỏi bị bệnh và những biến chứng nặng của bệnh. Nếu chẩn đoán ho gà sau 3 tuần khởi bệnh, thì kháng sinh không còn tác dụng nữa, vì đợt nhiễm khuẩn đã xong, mặc dù người bệnh vẫn còn triệu chứng.
Vaccine hiện nay bắt đầu cho trẻ từ hai tháng tuổi, là vaccine tổng hợp, có chứa vaccine ho gà. Vaccine không hoàn toàn bảo vệ trẻ khỏi bệnh, nhưng nếu trẻ bị bệnh, vaccine giúp bệnh của trẻ nhẹ nhàng hơn, tránh khỏi những biến chứng nặng của bệnh này.
Nghiên cứu cho thấy miễn dịch từ vaccine, ở người đã được nhận ba liều cơ bản từ 2 tháng đến 6 tháng tuổi, không kéo dài suốt đời. Miễn dịch đạt được sẽ dần dần mất đi, bắt đầu từ năm thứ 3 sau vaccine, và mất nhiều nhất từ năm thứ 5 sau chích ngừa trở đi. Đó là lý do tại sao, lịch chích ngừa hiện nay khuyến cáo chích vaccine có chứa ho gà ba mũi cơ bản khi trẻ từ 2 tháng đến 6 tháng tuổi, sau đó nhắc lại mũi thứ 4 lúc trẻ 15-18 tháng tuổi. Một mũi 4 trong 1 (Bạch Hầu – Uốn Ván – Ho Gà – Bại Liệt) nhắc lại được khuyến cáo lúc trẻ khoảng 4 tuổi. Và khi trẻ được 11-12 tuổi (lúc bắt đầu vào cấp 2), trẻ nên được chích nhắc lại một mũi 3 trong 1 (Bạch Hầu – Uốn Ván – Ho gà).
Hiện nay, còn một khuyến cáo thực hành nữa ở Mỹ, là thay vì chỉ chích ngừa Uốn Ván cho mẹ đang mang thai, người ta chích luôn 3 trong 1 (Bạch Hầu – Uốn Ván – Ho Gà) cho bà mẹ, ở mỗi lần mang thai. Thực hành này nhằm có thể truyền miễn dịch chống Ho Gà từ mẹ cho thai nhi, để trẻ sinh ra được bảo vệ khỏi bệnh Ho Gà một phần nào. Đồng thời, việc chích ngừa cũng giảm nguy cơ mẹ bị Ho Gà, và vì vậy có bảo vệ nhân đôi cho trẻ.
Vậy…bạn có chích ngừa cho CON BẠN và cho BẠN chưa?!!!!!
Viêm tai giữa cấp
Các bạn xem lại hình giải phẫu tai ở bài trước rồi mới đọc bài này nhé!
Viêm tai giữa cấp là một bệnh khá phổ biến ở trẻ em nhỏ. Việc một trẻ nhỏ có vài lần viêm tai giữa trong một năm là khá bình thường. Thống kê cho thấy khoảng 2/3 trẻ nhỏ dưới 3 tuổi có ít nhất một đợt viêm tai giữa. Đến khi trẻ đến tuổi bắt đầu vào lớp 1, 90% các trẻ đã có tối thiểu một đợt viêm tai giữa. Nhóm trẻ từ 6 tháng đến 18 tháng tuổi là nhóm tuổi có tần suất viêm tai giữa xảy ra cao nhất. Trẻ nhỏ dưới 2 tuổi thường dễ bị viêm tai giữa hơn trẻ lớn hơn vì ống thông Eustachian nối khoang tai giữa với hầu họng ở những trẻ này nhỏ hơn. Vì vậy, khi trẻ bị những đợt viêm mũi họng, viêm hô hấp trên, các tác nhân gây bệnh (virus, vi trùng) dễ “leo” vào ống thông và “lọt vào” khoang tai giữa, gây nhiễm trùng.
Dấu hiệu và triệu chứng bệnh:
Khi tình trạng viêm nhiễm xảy ra trong khoang tai giữa, màng nhĩ bị ảnh hưởng, viêm đỏ, sưng, đau, và phồng lên do tăng áp lực trong khoang, ống Eustachian cũng có thể bị ảnh hưởng tương tự. Vì vậy, trong bệnh này, bé sẽ khó chịu hoặc đau tai, có thể làm giảm thính lực trẻ cấp tính, và có thể bị ù tai.
Khi trẻ bị viêm tai giữa, trẻ thường sẽ có triệu chứng viêm nhiễm đường hô hấp, sốt, khó chịu vì đau. Một số trẻ không nói được có thể cứ kéo tai của mình, hoặc đưa ngón tay vào trong ống tai bị bệnh, vì trẻ cảm thấy khó chịu tại chỗ. Trẻ có thể ói, biếng ăn, đừ, và có thể nghe kém hơn bình thường.
Một số trường hợp, khi màng nhĩ căng phồng quá mức, có thể vỡ, và dịch mủ viêm sẽ thoát ra ngoài, lúc này bé sẽ cảm thấy bớt đau vì được cân bằng áp lực giữa khoang và ống tai ngoài, nhưng ba mẹ có thể rất lo lắng khi thấy dịch mủ chảy ra khỏi tai con.
Một số viêm tai giữa có thể có biến chứng nặng hơn, gây nhiễm trùng lan rộng qua vùng sau tai, hoặc dẫn đến viêm phổi, nhiễm trùng huyết, vân vân, nhưng tỉ lệ các biến chứng này rất thấp.
Chăm sóc và thăm khám trẻ:
Khi nghi ngờ con có triệu chứng, nên cho trẻ đi khám bác sĩ. Khi thăm khám trẻ, bác sĩ sẽ đánh giá tình trạng tổng quát của bé, và sẽ tư vấn về quyết định dùng kháng sinh hay không, hoặc nên theo dõi, tái khám như thế nào cho hợp lý. Màng nhĩ của trẻ khi vỡ lại có thể phục hồi và tự vá lành lại khá nhanh, vì vậy, không cần lo lắng về điều này.
Đa số các trường hợp (75%) viêm tai giữa gây ra do vi trùng, chỉ 25% trường hợp còn lại là do virus. Tuy nhiên, không như những nhiễm trùng khác, nhiễm trùng viêm tai giữa đa số lại tự hết và không cần điều trị kháng sinh.
MỘT ĐIỀU LƯU Ý LÀ Ở TRẺ NHŨ NHI DƯỚI 1 TUỔI BỊ VIÊM TAI GIỮA, VIỆC SỬ DỤNG KHÁNG SINH LÀ ĐIỀU HOÀN TOÀN BẮT BUỘC, chứ không thể bỏ không theo dõi như trẻ lớn hơn được, vì nhóm trẻ này hệ miễn dịch rất kém, và dễ bị các biến chứng của bệnh hơn. Nhóm trẻ này cũng là nhóm nên được thăm khám và đánh giá kỹ và thường xuyên hơn.
Việc chăm sóc một trẻ viêm tai giữa cũng tương tự như một trẻ bị viêm đường hô hấp trên khác, bao gồm giảm đau, hạ sốt khi cần, giúp trẻ thoải mái, và khuyến khích trẻ ăn uống từ từ để tránh mất nước. Tuy nhiên, vì tình trạng tăng áp lực khoang màng nhĩ, và khả năng màng nhĩ có thể bị vỡ, các bác sĩ có thể có khuyến cáo không được bơi lội, và không được bay, cho đến khi bệnh lành hẳn.
Các bé bị viêm tai giữa nên được tái khám sau đợt bệnh, để xem bệnh có hết hẳn hay không. Một số trường hợp khi viêm tai giữa đã hết, để lại dịch ứ đọng trong khoang tai. Dịch này thường tự rút sau vài tuần, vài tháng, tuy nhiên, có những trường hợp (hiếm) dịch ở lì trong khoang không chịu đi, sẽ làm ảnh hưởng đến độ rung của màng nhĩ, gây giảm thính lực cho trẻ. Những trường hợp này có thể sẽ cần can thiệp của bác sĩ chuyên khoa để giúp dịch được thoát ra ngoài, giúp trẻ nghe được tốt hơn, vì việc giảm thính lực sẽ ảnh hưởng rất lớn đến phát triển ngôn ngữ và giao tiếp của trẻ trong độ tuổi này.
Những thông tin cần nghi nhớ:
• Việc một trẻ nhỏ có vài đợt viêm tai giữa trong năm khá phổ biến
• Kháng sinh không phải lúc nào cũng cần thiết để điều trị viêm tai giữa
• Có thể có dịch trong tai giữa sau đợt viêm, dịch có thể ở lại vài tuần hoặc vài tháng sau đợt viêm, và là điều bình thường. Chỉ khi có ảnh hưởng đến thính lực, hoặc khi ở lại quá lâu, mới có chỉ định can thiệp.
• Đa số trẻ sau các đợt viêm tai giữa, thủng màng nhỉ, vẫn phát triển bình thường, với thính lực bình thường.
Hăm tã
Nguyên nhân gây hăm tã thường gặp nhất ở trẻ nhỏ là do sự kích thích gây tổn thương da. Da bị ẩm ướt và bị cọ sát liên tục với tã có thể bị tổn thương. Vi trùng, nấm, các loại xà bông giặt, nước tiểu và phân càng làm tệ hơn tình trạng này
Những nhân tố làm hăm tã tệ hơn là:
• Phân lỏng nước (khi bé bị tiêu chảy )
• Không thay tả đủ thường xuyên
• Cho trẻ mặc quần nilon.
Đa số trẻ hết bị hăm tả khi bắt đầu tập ngồi bô
Dấu hiệu và triệu chứng của hăm tả:
• Da vùng tã thường nhìn đỏ, và có thể có những hạt đỏ đi kèm, đặc biệt ở vùng biên của sẩn
• Có thể bị đau hoặc ngứa khi lau vùng tã hăm
• Trẻ có thể bị khó chịu, quấy khóc
Chăm sóc tại nhà
• Tốt nhất là nên dùng tả dùng một lần loại tốt cho trẻ. Tả dùng một lần hút ẩm nhanh, giữ cho da được khô. Tã vải tốt cho môi trường, nhưng lại không hút ẩm tốt bằng.
• Nên thay tả thường xuyên (khoảng 5-7 lần một ngày ở trẻ dưới 12 tháng tuổi ), để giảm thời gian da trẻ phải tiếp xúc với nước tiểu và phân.
• Mỗi lần thay tả, nên lau vùng mông trẻ nhẹ nhàng bằng khăn bông thấm nước ấm, hoặc các loại khăn lau loại “chux”. Các loại khăn ướt mua tại siêu thị có thể gây kích thích da và không nên dùng.
• Kem chống hăm nên được thoa ở mỗi lần thay tả. Việc bôi kem này sẽ bảo vệ da khỏi bị ẩm và tránh cho da khỏi tiếp xúc với các chất làm tổn thương da. Kem kẽm là tốt nhất, hoặc các loại kem nến trắng mềm cũng tốt. Nếu kem bạn dùng rất dễ lau sạch, nên thay bằng một loại kem khác, bởi chúng ta cần tạo một lớp chắn tốt cho da bé.
• Cố gắng cho trẻ có thời gian không dùng tả càng nhiều càng tốt
• Không nên dùng các loại phấn trẻ em cho hăm tã
Có nhiểu loại sẩn da khác nhau có thể hiện diện ở vùng tã và có thể không gây ra do tã. Một số tình trạng, như viêm da dị ứng hoặc nhiễm trùng da có thể xảy ra ở vùng cơ thể bất kỳ. Những sẩn này sẽ không cái thiện khi điều trị hăm tã. Nên cho trẻ đi khám bác sĩ nếu vùng sẩn không cải thiện
Diều trị
• Hăm tã kéo dài,không đáp ứng với các loại kem trị hăm tã, có thể phải cần điều trị bằng những loại kem thuốc đặc hiệu. Nên cho trẻ đi khám bác sĩ để có quyết định điều trị đúng.
• Không nên dùng các dung dịch sát khuẩn cho hăm tã
• Nên cho trẻ đi tác khám nếu sẫn không cải thiện trong 1-2 tuần.
Những thông tin cần ghi nhớ
• Hăm tả làm cho da trẻ đỏ và đau. Bé có thể khó chịu và quấy khóc.
• Phòng ngừa hăm tả là việc quan trọng nhất. Nên giữ da trẻ sạch và khô bằng cách thay tã thường xuyên.
• Dùng kem phủ để tránh nước tiểu và phân tiếp xúc với da
• Tả mặc một lần loại tốt là tốt nhất. Nên cho trẻ có thời gian không mặc tã để giúp giảm hăm tả.
Cái chuyện con chim!
“Bác sĩ ơi, con em có bị hẹp bao qui đầu không vậy?” – đây là một câu hỏi thường gặp ở nhiều gia đình có bé trai, và không ít trường hợp, câu hỏi này được đưa ra trong lần gặp bác sĩ đầu tiên để khám tổng quát bé, thường trong khoảng 1-2 tháng tuổi. Nhiều cha mẹ ám ảnh chuyện hẹp bao qui đầu đến mức quyết tâm kéo ngược da qui đầu của trẻ, tự mình hoặc nhờ y bác sĩ, để thấy an tâm, nhưng không biết cách thực hành này có thể gây nguy hại không nhỏ về sau cho bé. Vì vậy, đề tài nói chuyện lần này là về lĩnh vực nhạy cảm nhưng gây không ít hiểu lầm và đau thương này của trẻ trai.
Hẹp bao qui đầu, theo định nghĩa, là khi da bao qui đầu – vùng da xung quay đầu chim – không kéo ngược lại được.
Thông tin quan trọng mà ba mẹ cần ghi nhớ, là tỉ lệ hẹp bao qui đầu thật – bệnh lý - cần can thiệp, là rất thấp, con số thống kê chỉ khoảng dưới 1%.
Một điều cần ghi nhớ nữa, là từ lúc bé sinh ra, da qui đầu của bé sẽ dính chặt vào thân chim, và sẽ từ từ tự tách ra khỏi thân chim khi bé lớn lên. Nếu muốn tưởng tượng, sẽ giống như bông chuối vậy, ban đầu khép thật chặt, sau đó các lớp vỏ cứng mới từ từ dang ra để lộ những trái chuối con. Nhưng ở người, sự tách này diễn ra khá chậm trãi. Khoảng 4 tuổi, 90% bé trai sẽ có da qui đầu tự tách ra, và đến tuổi dậy thì, 99% - gần hết – trẻ trai có da qui đầu tách ra, và có thể tự kéo ngược lại. Vì vậy, trong giai đoạn này, người ta gọi là “hẹp bao qui đầu sinh lý” – có nghĩa là một tình trạng bình thường. Người chăm sóc trẻ nên kiên nhẫn chờ đợi, và không nên suy nghĩ quá nhiều, hoặc manh động quá mức. Việc cố tách da qui đầu của trẻ, kéo ngược lại, khi cơ thể trẻ chưa sẵn sàng, giống như bạn cố gắng tách các bẹ bông chuối ra khi bông còn khép kín. Điều này không những gây đau đớn cho trẻ, mà còn gây tổn thương và để lại sẹo về sau. Một số trường hợp khi cố kéo ngược da qui đầu, lại phải vào cấp cứu vì không kéo da qui đầu về vị trí ban đầu được do chim bé bị sưng, viêm. Một số trẻ bị sẹo do da qui đầu bị kéo ngược quá sớm, lại có thể bị hẹp bao qui đầu thật sự về sau, do sẹo thít chặt quanh chim. Có nghĩa là bạn tự gây ra tình trạng bạn muốn tránh cho con, một cách rất không cần thiết.
Một số người quan niệm phải kéo ngược da qui đầu để vệ sinh. Điều này cũng không đúng lắm. Chỉ đúng khi da qui đầu của bé đã tự tách ra, còn khi chưa tách, thì không cần vệ sinh làm gì. Một số trẻ có thể thấy những cục trắng, vàng ở dưới da qui đầu, nhưng đó chỉ là những tế bào chết từ da qui đầu thôi, hoàn toàn lành tính và không gây hại hoặc gây nhiễm trùng gì cả.
Rất nhiều ba mẹ đánh đồng việc hẹp bao qui đầu với việc phải cắt bao qui đầu cho trẻ, điều này không đúng. Việc quyết định cắt bao qui đầu vì hẹp bao qui đầu bệnh lý chiếm tỉ lệ rất ít. Nhiều nơi trên thế giới, việc cắt bao qui đầu là một quan niêm về văn hóa, niềm tin. Nhiều nơi khác, cắt bao qui đầu là một lực chọn của người chăm sóc trẻ, nhưng không phải là một chuyện bắt buộc. Lựa chọn này có, là do có bằng chứng cho thấy việc cắt bao qui đầu của trẻ có liên quan đến việc giảm nguy cơ nhiễm trùng tiểu, nguy cơ bị các bệnh lây nhiễm qua đường tình dục, nguy cơ ung thư dương vật khi trẻ trưởng thành. Tuy nhiên, đây vẫn là lựa chọn có-không của ba mẹ và người chăm sóc trẻ, vì khi thực hiện thủ thuật cắt bao qui đầu cần phải gây mê, gây đau đớn, sợ hãi, có nguy cơ nhiễm trùng, biến chứng từ thủ thuật, cũng như cũng có thể sang chấn tâm lý cho trẻ ở một số trường hợp.
Một điều ba mẹ cần lo, nhưng không thấy ai lo, là lỗ tiểu có mọc ở đúng vị trí không. Điều này thường được kiểm tra khi trẻ được khám tổng quát lúc mới sinh, hoặc khi trẻ được 2-4 tháng tuổi. Lỗ tiểu đúng chỗ là tại đầu chim. Nếu các bạn thấy bé đi tiểu mà nước tiểu không ra từ đầu chim, mà lại ra ở thân dưới hoặc thân trên của dương vật, thì nên cho bé đi khám bác sĩ ngay nhé.
Tóm lại, đây là một số điểm cần ghi nhớ:
1. Không được cố gắng kéo ngược bao qui đầu để vệ sinh. Không cần vệ sinh bên trong da qui đầu ở trẻ nhỏ
2. Đa số các trẻ sẽ có tình trạng hẹp bao qui đầu sinh lý – điều này là bình thường. Da qui đầu sẽ tự tách khỏi chim dần dần, và xảy ra ở gần như tất cả các bé trai trong giai đoạn dậy thì.
3. Hẹp bao qui đầu bệnh lý rất ít gặp, chiếm dưới 1% dân số nam
4. Nên cho trẻ đi khám bác sĩ nếu sau khi dậy thì (14-15 tuổi) mà bao qui đầu chưa tự tách, hoặc nếu trẻ khó chịu, đau khi đi tè.
5. Cắt bao qui đầu là một điều trị cho hẹp bao qui đầu bệnh lý, nhưng chúng ta cũng có thể chọn cắt bao qui đầu cho trẻ vì có một số lợi ích nhất định. Nên cân nhắc giữa những lợi ích và bất lợi (biến chứng, đau…) ở từng trường hợp khi quyết định cắt bao qui đầu.
Bệnh thường gặp ở trẻ em và cách điều trị, chăm sóc cho bé
- Title : Bệnh thường gặp ở trẻ em và cách điều trị, chăm sóc cho bé
- Posted by :
- Date : 15:20
- Labels : Cham-soc-tre-em, Gia-dinh
-
Views:




















0 nhận xét :
Đăng nhận xét